Ngữ pháp diễn tả dự định của kỳ thi JLPT N4

    0
    70

    Với các bạn du học sinh đi Nhật hoặc các lao động xuất khẩu lao động Nhật Bản thì một trong những yêu cầu quan trọng cần được đáp ứng là các bạn phải có chứng chỉ đánh giá năng lực tiếng Nhật. Kỳ thi JLPT hiện nay đang là kỳ thi tiếng Nhật phổ biến nhất được nhiều bạn đăng ký tham gia để lấy chứng chỉ.

    Tổng quát về kỳ thi JLPT N4

    Kỳ thi JLPT có tất cả 5 cấp độ từ thấp đến cao gồm N5, N4, N3, N2 và N1. Trong đó, cấp độ N4 chỉ yêu cầu người dự thi hiểu được tiếng Nhật ở mức căn bản. Các bạn cần phải đọc hiểu được những văn chương bằng chữ Kanji và từ vựng cơ bản thường được dùng hàng ngày. Nghe hiểu nội dung của các đoạn hội thoại trong những tình huống thường ngày với tốc độ nói chậm.

    Ngữ pháp diễn tả dự định của kỳ thi JLPT N4

    Cấu trúc đề thi và thời gian làm bài của kỳ thi JLPT N4 là:

    • Kiến thức (Từ vựng): thi trong 30 phút
    • Kiến thức (Ngữ pháp) + Đọc hiểu: thi trong 60 phút
    • Nghe hiểu: thi trong 35 phút

    Như vậy tổng thời gian dự thi khi các bạn đăng ký kỳ thi JLPT N4 là 125 phút. Để được tính là vượt qua phần thi đánh giá năng lực tiếng N4 này thì tổng số điểm mà thí sinh phải đạt được tốt thiểu là 90 điểm. Trong đó, điểm phần kiến thức và đọc hiểu phải trên 38 điểm, điểm thi phần nghe hiểu phải trên 19 điểm.

    Ngữ pháp chỉ dự định trong tiếng Nhật

    Thường có 3 cấu trúc ngữ pháp tiếng Nhật chỉ dự định được sử dụng trong các bài thi là と思う, つもり よてい. Vì có khá nhiều bạn hay nhầm lẫn giữa 3 cấu trúc này nên chúng tôi sẽ chỉ cho các bạn mẹo để phân biệt chúng trong bài viết sau. 

    と思う

    • Cấu trúc: V thể chí hướng (意向形 ) + と思う
    • Cách dùng: Cấu trúc này thường được dùng để diễn tả những dự định ngay tại thời điểm nói mà chưa có kế hoạch cụ thể từ trước, do đó khả năng xảy ra là không cao. Nó cũng được dùng để nói về dự định của một người thứ 3.
    • Ví dụ: 今晩、友達と買い物に行こうと思う。(Konban tomodachi to kaimono ni ikou to omou) – Tôi định tối nay đi mua đồ với bạn.

    今晩は外食をしようと思います (Konban wa gaishokushiyou to omoimasu) – Tôi định ăn cơm ở ngoài tối nay.

    つもり

    • Cấu trúc: V thể thường (普通形)+つもりだ。. Dạng phủ định là Vないつもりだ。 hoặc Vる+つもりはない
    • Cách dùng: Cấu trúc này thường được dùng để diễn tả dự định đã được lên kế hoạch của người nói nhưng vẫn chưa chắc chắn.
    • Ví dụ: 来月家族とお花見に日本へ行くつもりです。(Raigetsu kazoku to ryokou ni iku tsumori desu.) – Tháng sau tôi định đi Nhật Bản cùng gia đình để ngắm hoa anh đào.

     よてい

    • Cấu trúc: V thể thường (普通形) + よてい
    • Cách dùng: Cấu trúc này thường được dùng để diễn tả một dự đính, kế hoạch của người khác và người nói không phải là người quyết định.
    • Ví dụ: 部長は来月に東京へ出張する予定です。(Buchou wa raigetsu ni Tokyo he shucchou suru yotei desu.) – Tháng sau trưởng phòng sẽ có một chuyến công tác đến Tokyo.

    Cách phân biệt các cấu trúc dự định trong tiếng Nhật

    Về cơ bản, có 2 tiêu chí để phân biệt sự khác nhau trong cách dùng của 3 cấu trúc ngữ pháp tiếng Nhật chỉ dự định kể trên là:

    • Dự định này là của ai? Của người nói hay của người khác.
    • Mức độ chắc chắn mà dự định hay kế hoạch đó sẽ diễn ra trên thực tế.

    Cả と思うvà つもり đều được dùng để chỉ dự định của người nói và vẫn chưa xác định chắc chắn sẽ được thực hiện. Nhưng với つもり thì người nói đã lên kế hoạch từ trước cho dự đính, do đó khả năng hành động xảy ra cao hơn so với と思う. Trong khi đó よてい lại được dùng để diễn tả hành một dự định đã có kế hoạch cụ thể của người khác.

    Tóm lại, ngữ pháp tiếng Nhật sẽ không thể làm khó các bạn nếu các bạn tìm hiểu kỹ và hiểu rõ bản chất của chúng. Hi vọng sau khi đọc xong bài viết này sẽ giúp các bạn có thể thành thạo sử dụng ngữ pháp tiếng Nhật chỉ dự định khi tham gia các ký thi tiếng Nhật nhé!

    0 0 votes
    Article Rating
    Subscribe
    Notify of
    0 Comments
    Inline Feedbacks
    View all comments